HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner
Nghiên cứu Y Học

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, NỘI SOI VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN KHÓ TIÊU ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN THEO TIÊU CHUẨN ROME III

CLINICAL, ENDOSCOPIC CHARACTERISTICS AND RELATED FACTORS IN DYSPEPTIC PATIENTS DIAGNOSED ACCORDING TO ROME III CRITERIA

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2):51. DOI

Lượt xem: 218 Lượt tải PDF: 0

Tác giả

Hồ Xuân Linh*, Bùi Hữu Hoàng**

Tóm tắt

Mở đầu: Khó tiêu là một trong những rối loạn tiêu hóa khá phổ biến trong dân số. Việc chẩn đoán khó tiêu chức năng (KTCN) dựa theo tiêu chuẩn Rome III hiện được áp dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, có rất ít nghiên cứu liên quan đến khó tiêu được chẩn đoán theo tiêu chuẩn Rome III.

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng, nội soi và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân (BN) khó tiêu được chẩn đoán theo tiêu chuẩn Rome III.

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, thực hiện trên 330 BN ngoại trú tại Bệnh viện Đại Học Y Dược TP. HCM có các triệu chứng khó tiêu. Đánh giá triệu chứng lâm sàng theo bộ câu hỏi KTCN của Rome III.

Kết quả: Tỉ lệ KTCN ở BN khó tiêu là 82,4%, trong đó hội chứng đau thượng vị chiếm 64,7%, hội chứng khó chịu sau ăn chiếm 71%; tỉ lệ BN có cả hai hội chứng là 35,7%. Trong 330 BN khó tiêu, tỉ lệ phát hiện tổn thương qua nội soi chiếm 17,6%; trong đó, viêm trợt thực quản (VTTQ) và loét dạ dày tá tràng (DDTT) chiếm đa số với tỉ lệ lần lượt là 9,1% và 6,9%, ung thư dạ dày chiếm 1,5%. Tuổi ≥ 42 và sụt cân không chủ ý là hai yếu tố độc lập dự đoán nguy cơ bị khó tiêu thực thể ở BN khó tiêu.

Kết luận: KTCN chiếm đa số ở BN khó tiêu. Hai yếu tố gợi ý cần tiến hành nội soi để phát hiện tổn thương thực thể ở BN khó tiêu bao gồm: tuổi > 42, sụt cân không chủ ý.

Abstract

Background: Dyspepsia is one of the common gastrointestinal disorders in the population. The diagnosis of functional dyspepsia (FD) based on Rome III criteria is actually applied worldwide. Currently, there are few studies concerning dyspepsia diagnosed according to Rome III criteria in Vietnam.

Objective: To describe clinical, endoscopic characteristics and related factors in dyspeptic patients diagnosed according to Rome III criteria.

Subjects and methods: A cross-sectional study was conducted on 330 out-patients suffering from dyspepsia at the University Medical Center of Ho Chi Minh City. Patients’ symptoms were assessed according to Rome III FD questionnaire.

Results: The rate of FD in dyspeptic patients was 82.4% (272/330). Among 272 subjects with FD, 64.7% had epigastric pain syndrome (EPS), 71% had postprandial distress syndrome (PDS); 35.7% had both syndromes. Endoscopic findings were found in 17.6% of 330 dyspeptic patients; among these patients, erosive esophagitis, peptic ulcers and gastric cancer were 9.1%, 6.9% and 1.5% respectively. Over age of 42 and unintentional weight loss were independent risk factors which can help to predict organic dyspesia in dyspeptic patients.

Conclusion: FD is the majority of dyspeptic patients. Over age of 42 and unintentional weight loss are two factors suggesting the indication of upper gastrointestinal endoscopy to find out organic dyspepsia in dyspeptic patients.